Hướng tiếp cận trong giáo dục y dược cần được đổi mới

Hướng tiếp cận trong giáo dục Y Dược cần đổi mới.

Mình đã từng bị chửi bới nặng nề khi dám comment nêu ý kiến trái chiều trong những bài post sử dụng cơ chế để suy diễn đến hiệu quả thực sự của một số thuốc trong điều trị Covid-19. Những kết luận chắc nịch “bởi vì cơ chế như vậy nên hiệu quả là ko thể chối cãi”!? Vài tháng đã trôi qua, tất cả những trị liệu được đề xuất ngày nào lần lượt fail hết các RCT lớn nhỏ (thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng).

Cơ chế Dược lý quả thật rất hay và hấp dẫn, là cơ sở để liên tục sáng tạo nghiên cứu và phát triển nhưng nếu hiểu sai lệch có thể dẫn đến những hệ luỵ nghiêm trọng trong thực hành lâm sàng. SV YD đang được đào tạo rằng hiệu quả của một trị liệu đến từ cơ chế, điều đó chỉ là 1 phần chứ chưa phải bức tranh toàn cảnh. Trong đào tạo Y khoa ở VN hiện chỉ có duy nhất môn Dược lý học là liên quan khá nhiều đến sử dụng thuốc, còn làm sao để ứng dụng những điều được học vào thực tế lâm sàng thì hoàn toàn bỏ ngõ.

Nhiều người có lẽ không biết rằng các kết quả về Dược lý đa phần đến từ các thử nghiệm lâm sàng (clinical trials) trên người, các nhà nghiên cứu tìm được một kết quả bất ngờ, khác với những hiểu biết trước đó, từ đó họ mới quay về tìm hiểu và đề xuất các giả thuyết vì sao thuốc đó lại có thể làm được như vậy. Beta blocker chắc là ví dụ kinh điển của Y học chứng cứ (EBM), khi mà vài thập kỷ trước còn đang bị chống chỉ định, nay đã thành mainstay trong điều trị suy tim giảm EF; hoặc một số thuốc chống loạn nhịp được nghiên cứu ra với mục đích chống loạn nhịp nhưng RCT lại cho thấy các thuốc này làm tăng tử vong, uống vào thì bệnh nhân chết còn nhiều hơn nữa. Ngay cả những thuốc đã được dùng từ lâu đời như paracetamol mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa kết luận được cơ chế thật sự rõ ràng của nó trong giảm đau mà chỉ dừng lại ở các giả thuyết. Kháng sinh và đề kháng cũng là 1 bài toán nan giải, một cơ chế mới vẫn chưa đủ thoả mãn để giải quyết bài toán này, dù cơ chế có hấp dẫn cách mấy. Những người làm lâm sàng cần đặt mình ở nhiều góc độ khác nhau, cơ chế dù có hay nhưng không giúp được cho bệnh nhân của tôi thì cũng gạt sang 1 bên.

Mình hoàn toàn ko phải antifan của Dược lý vì kể ra hồi còn là SV năm 3, mình đã bắt đầu tìm hiểu và ngồi ngâm cứu đến mê mẩn các sách Dược lý kinh điển như Goodman & Gilman, so sánh đối chiếu với Katzung và Lippincott để hiểu hơn về cùng một nội dung. Chính vì đã thấm nhuần Dược lý nên mình càng muốn khai phá nhiều hơn những điều mà Dược lý chưa giải quyết được.
Hiểu về cơ chế, dược lực dược động (PK PD) của thuốc sẽ hỗ trợ trong việc sử dụng thuốc tốt hơn nhưng đó chỉ mới là một phần. Bạn cần trau dồi để biết thêm về cách đọc hiểu và đánh giá nghiên cứu, phân biệt các khái niệm cơ bản như efficacy vs effectiveness, biomarker/surrogate endpoint… và xa hơn là hiểu và phiên giải các dữ liệu từ thực tế (real world data).

Chứng cứ tốt ko phải chỉ có RCT. Y học chứng cứ ko chỉ gói gọn trong việc đi tìm kiếm bằng chứng tốt nhất mà đến nhiều hơn từ việc thẩm định kỹ lưỡng ưu nhược điểm của mỗi bằng chứng. Một nhà lâm sàng giỏi là người không chỉ nắm được những mặt tối của dữ liệu mà còn hiểu được những khoảng trống trong lâm sàng, những ngóc ngách còn chưa ai giải quyết để thậm chí chính bản thân họ có thể tìm cách lấp đầy nó, mà theo mình đây là cấp độ chuyên gia cao nhất. Ở VN đã có những cá nhân xuất sắc làm được điều này, tại sao ko nhân rộng điều đó? Một thực tế ko phải ai cũng tường tận là các PhD (chuyên về nghiên cứu) tu nghiệp từ nước ngoài về lại VN hành nghề khám chữa bệnh lại chưa thể hiện được hết tiềm lực cá nhân, thực tế lâm sàng có phần chưa bằng những đồng nghiệp làm nội trú dạn dày kinh nghiệm nhiều năm trời. Có chăng nên tìm cách dung hoà, cải tiến đào tạo liên tục, cùng bổ sung những ưu khuyết của nhau để mặt bằng Y khoa nói chung được tiến bộ hơn.

Tạm kết, trong thời buổi hỗn loạn thông tin, có quá nhiều sự không chắc chắn và nỗi lo sợ, cách tốt nhất để giúp bệnh nhân của mình là trau dồi bản thân tốt hơn, tìm cách học hỏi và vận dụng những tinh hoa, kiến thức nền tảng đã được tích luỹ ở ghế nhà trường thông qua càng nhiều trải nghiệm thực tế càng tốt. Be open-minded. Đừng chỉ chôn chân với những điều cũ kỹ, những lý thuyết suông, nói hay nhưng làm không hay. Đây không phải là thời điểm để xa rời Y học chứng cứ mà là thời điểm EBM cần được nhân rộng hơn nữa, để mỗi cá nhân được sáng tạo, được nghiên cứu chứng minh, và hơn hết là quyết không thoả hiệp với những thông tin sai lệch, những bằng chứng kém tin cậy. Cùng nhau chung tay, trên cơ sở background khác nhau, mỗi người một thế mạnh, NVYT có thể làm nên những điều tuyệt vời. Không ai là chuyên gia đa ngành đa lĩnh vực cả, mỗi người cần hiểu rõ thế mạnh của mình để hoàn thiện tốt nhất vai trò của bản thân, từ đó đóng góp đúng nghĩa cho cộng đồng.
Khai Phan